CÁC ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ KỲ THI ACT - CHỨNG CHỈ QUỐC TẾ ACT

Phụ huynh tại Việt Nam và các nước hầu như chỉ biết Kỳ thi SAT (các bạn có thể đọc thêm ở đây: để tìm hiểu về SAT) dành cho các trường Đại học Mỹ tuyển sinh; tuy nhiên, tại Mỹ các trường Đại học chấp nhận cả 2 Kỳ thi kiểm tra đầu vào: SAT và ACT. Trong suốt gần 60 năm của ACT, lần đầu tiên Kỳ thi ACT có số lượng học sinh phổ thông tại Mỹ tham gia thi cao SAT vào năm 2011 (1.666.017 học sinh thi ACT và 1.664.479 học sinh thi SAT) va tiếp tục vượt SAT về số lượng thí sinh hằng năm cho đến nay.

Vậy ACT là gì?

ACT (American College Testing) được đưa ra bởi Giáo sư Ngôn ngữ học Everett Franklin Lindquist của Đại học Iowa, và được tổ chức thi bởi Tổ chức ACT, một tổ chức phi lợi nhuận tại Mỹ. Tất cả các trường Đại học Mỹ đều chấp nhận cả 2 SAT và ACT và hoàn toàn không có sự phân biệt giữa các hồ sơ SAT hay ACT. 

Cấu trúc Kỳ thi ACT

Kỳ thi ACT bao gồm 4 phần: English (Văn chương), Mathematics (Toán), Reading (Đọc hiểu), và Science Reasoning (Lý luận Khoa học). Ngoài ra, phần Writing (Viết bài luận) là phần tự chọn, không bắt buộc. Trong kỳ thi ACT, học sinh sẽ lần lượt thi theo thứ tự: English, Math, Reading và cuối cùng là Science Reasoning. Bắt đầu từ năm 2015, ACT không còn kết hợp điểm giữa 2 phần English và Writing; thay vào đó, 2 hệ số điểm mới được đưa vào: ELA (Tổng số điểm kết hợp của English, Reading, và Writing) và STEM (Tổng số điểm kết hợp của Math và Science Reasoning).

Cũng như  chứng chỉ SAT, kỳ thi ACT không trừ điểm khi học sinh trả lời sai câu hỏi (penalty for guessing). Mỗi câu hỏi sẽ đạt điểm thực tế nếu trả lời đúng (raw score) và sau đó sẽ được điều chỉnh (scaled and curved) thành điểm chính thức (scaled score) của học sinh dựa trên Gaussian Distribution (cách tính điểm theo Gaussian Distribution được viết cụ thể ở bài: link của bài SAT) với thang điểm từ 1 đến 36 (số tròn). Ngoài ra, mỗi phần thi (English, Math, Reading, và Science Reasoning) đều có điểm riêng từ 1 đến 18 để đánh giá cụ thể.

act, thi act, chung chi act, act la gi

Phân tích Kỳ thi ACT

Phần thi English

Phần English có 75 câu hỏi được chia đều cho 5 bài đọc và được thi trong 45 phút (trung bình thí sinh có 9 phút để làm 1 bài đọc, và nếu tốc độ đọc trung bình của học sinh là 4 phút cho 1 bài đọc thì học sinh có 20 giây để trả lời 1 câu hỏi trong phần Reading). Đề tài của 5 bài đọc bao gồm Khoa học, Xã hội học, Tâm lý học, Lịch sử, Đại lý, Văn hóa… Và các câu hỏi chú trọng vào việc đánh giá khả năng sử dụng ngôn ngữ, đánh giá cấu trúc của câu văn, sự hợp lý của các thành phần trong câu văn và bài văn, bố cục của bài văn, cũng như các ý tưởng đằng sau của bài viết.

Phần thi Math

Phần Math của ACT bao gồm 60 câu hỏi và được làm trong 60 phút (trung bình 1 phút cho 1 câu hỏi), trong đó 14 câu hỏi về pre-algebra (Đại số Nhập môn), 10 câu elementary algebra (Đại số Căn bản), 9 câu intermediate algebra (Đại số Nâng cao), 14 câu plane geometry (Hình học phẳng), 9 câu coordinate geometry (Giải tích về Vector), và 4 câu elementary trigonometry (Hình học Không gian). Và mức độ khó của câu hỏi cũng tăng theo thứ tự của câu hỏi. Khác với cấu trúc của SAT, thí sinh sử dụng máy tính trong tất cả các câu hỏi Math của ACT. Phần Math dùng để đánh giá khả năng hiểu về nguyên lý cũng như logic Toán học của học sinh. Ngoài ra, phần kiểm tra Math cũng đánh giá khả năng kết nối thông tin, áp dụng thông tin, và đưa ra nhận xét dựa trên loại suy của học sinh.

Phần thi Reading

Phần Reading của ACT bao gồm 40 câu hỏi và được làm trong 35 phút (trung bình 52 giây để trả lời 1 câu hỏi). Bài thi Reading được chia ra làm 4 bài đọc, bao gồm 3 bài dài và 1 bài ngắn, trong đó có thể đề cập đến rất nhiều lĩnh vực từ Khoa học đến Xã hội học, Lịch sử, Địa lý, Tâm lý học… Các bài đọc Reading nhằm đánh giá 3 kỹ năng chính của thí sinh: key ideas and details (ý tưởng chính và các chi tiết quan trọng), craft and structure (cấu trúc và hình thành cấu trúc của bài đọc), và integration of knowledge and ideas (khả năng kết nối, suy luận, và đánh giá ý tưởng dựa trên kiến thức của học sinh). Tương tự như Kỳ thi SAT (và hoàn toàn ngược lại với Kỳ thi TOEFL), phần lớn câu hỏi Reading của ACT yêu cầu học sinh đưa ra ý tưởng chủ đạo hoặc nhận định dựa trên kỹ năng suy luận của mình (reasoning skill). Hơn nữa, khá nhiều câu hỏi yêu cầu thí sinh sử dụng kỹ năng suy luận xác định, diễn giải, đánh giá hoặc sắp xếp thông tin theo hệ thống thời gian, so sánh sự tương quan và kết nối giữa các yếu tố của bài đọc, hoặc đưa ra nhận định về cách viết cũng như văn phong của tác giả.

Phần thi Science Reasoning

Phần Science Reasoning gồm 40 câu hỏi được phân bổ trong 7 bài đọc với mỗi bài đọc chứa từ 5 đến 7 câu hỏi, và làm trong 35 phút (trung bình 52 giây để trả lời 1 câu hỏi). Và nếu với khả năng đọc trung bình của thí sinh là 2 phút 30 giây thì học sinh sẽ có trung bình khoảng 25 giây để trả lời 1 câu hỏi). Bài Science Reasoning được chia ra 3 dạng chính: data representation (phân tích và đánh giá thông tin), research summary (đánh giá và tổng hợp các nghiên cứu khoa học), và conflicting viewpoints (Đánh giá những quan điểm trái ngược nhau trong khoa học).

Cách tính điểm ACT

Tương tự như SAT, điểm ACT được điều chỉnh (scaled) dựa trên Gaussian Distribution và nằm trong khoảng từ 1 đến 36, sau khi được điều chỉnh. Học sinh nộp giấy trắng vẫn được 1 điểm. Để hiểu hơn về cách tính điểm Gaussian Distribution, các bạn có thể tham khảo thêm ở đây.

Diễn giải điểm ACT

Sau khi áp dụng Gaussian Distribution, điểm ACT có Range (khoảng) là 1 đến 36, và có điểm trung bình (Mean hoặc Median, dựa trên 6 đơn vị standard deviation) là 18. Điểm trung bình (average score) của kỳ thi ACT tùy thuộc vào từng năm, ví dụ điểm ACT trung bình của năm 2017 là 21.0 điểm.

ky thi act, act tai my, luyen thi act

Thế nào là điểm ACT tốt?

Cũng như SAT, không có 1 khung điểm cụ thể để có thể đánh giá điểm thi ACT thế nào là tốt cho học sinh. Điểm ACT được xem là tốt phụ thuộc vào ngành học mà học sinh muốn học và trường đại học mà học sinh muốn nộp đơn vào.

Tuy nhiên, thí sinh có thể sử dụng khung điểm tương đối để biết mình có thể nộp đơn vào trường Đại học với hướng dẫn như sau:

Điểm từ 34 đến 36: có khả năng vào các trường rất chọn lọc, như Harvard hoặc MIT.

Điểm từ 30 đến 33: có khả năng được nhận vào các trường đại học chọn lọc: UCSD, Tufts, hoặc Univ. of Michigan.
Điểm từ 27 đến 29: khả năng được nhận vào các trường đại học khá, như Wichita State Univ., Oregon State Univ., hoac Univ. of Iowa.
Điểm dưới 27: khả năng được nhận vào các trường State Colleges (đại học của Tiểu bang. Để hiểu hơn về State Colleges, hãy đọc bài viết về sự khác biệt giữa Universities va Colleges: link bai viet university vs college).
Chính vì vậy, học sinh cần xách định cho mình ngành học và trường muốn học trước khi bắt tay vào ôn tập ACT để có thể có mục tiêu cụ thể cũng như phương pháp học hợp lý để đạt điểm mong muốn.

Nên thi SAT hay ACT?

Sự chọn lựa giữa hai kỳ thi SAT và ACT tùy thuộc vào năng lực cụ thể của học sinh và sẽ được phân tích kỹ ở bài viết sau.

khoa hoc act, day tieng anh act, day act

Tag: act, thi act, chung chi act, act la gi, ky thi act, act tai my, luyen thi act, khoa hoc act, day tieng anh act, day act